Quy phạm sơn chống ăn mòn kết cấu thép cầu

2026-07-31 · Phân loại: Technical Knowledge

🌐 Bài viết này được dịch tự động bằng AI; văn bản gốc bằng tiếng Trung. Vui lòng tham khảo văn bản gốc tiếng Trung nếu bạn có thắc mắc. · Xem bản gốc tiếng Trung

Cầu, đặc biệt là các cầu kết cấu thép quy mô rất lớn vượt sông vượt biển, là một trong những tài sản công nghiệp có môi trường ăn mòn khắc nghiệt nhất, chi phí bảo trì cao nhất và thiệt hại khi ngừng hoạt động lớn nhất. Dầm hộp thép, tháp cáp, dầm neo thép của một cầu dây văng hay cầu treo, thường xuyên nằm trong môi trường xuống cấp hỗn hợp do luân phiên khô ướt, xâm thực sương muối, phơi nắng tia cực tím và rung động từ phương tiện, một khi hệ thống sơn chống ăn mòn suy thoái sớm, rỉ sét thường lan từ bên trong buồng kín ra ngoài, khi bảo trì phải phong tỏa làn đường, dựng giàn giáo, làm lại, chi phí kinh tế và xã hội cực cao. Do đó, sơn bảo vệ chống ăn mòn cho cầu không bao giờ là chuyện "quét một lớp sơn", mà là một hệ thống công trình bao gồm tiêu chuẩn, hệ sơn配套, thi công và bảo trì toàn bộ tuổi thọ. Bài viết này lấy tiêu chuẩn ngành đường bộ Trung Quốc JT/T 722-2008 "Điều kiện kỹ thuật sơn chống ăn mòn kết cấu thép cầu đường bộ" làm chủ tuyến, kết hợp với ISO 12944GB 50205 "Quy phạm nghiệm thu chất lượng thi công kết cấu thép công trình", hệ thống梳理 các điểm then chốt của quy phạm thiết kế và thi công sơn chống ăn mòn kết cấu thép cầu, giúp chủ đầu tư, viện thiết kế và đơn vị thi công nâng cấp "chống ăn mòn theo kinh nghiệm" thành "chống ăn mòn theo tiêu chuẩn có căn cứ tra cứu được".

Kexin Materials (KeXin New Material) khi tham gia các dự án hệ sơn cầu, thường có thói quen ánh xạ trực tiếp vùng phân khu ăn mòn của JT/T 722 sang cấp C4–CX của ISO 12944, hình thành tài liệu kỹ thuật song song "tiêu chuẩn quốc gia đi vào thực tế, tiêu chuẩn quốc tế bảo chứng", thuận tiện cho giám sát, thiết kế và nhà cung cấp phối hợp trên cùng một khuôn khổ, cũng tiện lợi cho dự án cầu có yếu tố nước ngoài tiếp nối ngôn ngữ chung của tư vấn quốc tế.

Góc nhìn toàn cảnh thi công sơn chống ăn mòn đa lớp bề mặt ngoài dầm hộp thép cầu dây văng lớn vượt biển

Một, Tại sao cầu là "trường thi cực đoan" của chống ăn mòn

Rủi ro hư hỏng kết cấu thép cầu đến từ ba điểm chồng chất, điều này quyết định quy phạm chống ăn mòn cầu phải nghiêm ngặt hơn kết cấu thép nhà xưởng thông thường:

  1. Môi trường khắc nghiệt: cầu vượt biển nằm trong vùng bắn tung sương muối cấp CX, cầu nội địa cũng phần lớn ở C3–C4; chu trình khô ướt tăng tốc làm giàu ion clorua, vùng thủy triều và vùng bắn sóng là bộ phận có tốc độ ăn mòn cao nhất;
  2. Kém tiếp cận: bên trong dầm hộp thép, mối hàn nút, vùng neo cáp khó kiểm tra và bảo trì, nhiều tiềm ẩn chỉ bộc lộ sau khi đóng hộp, khi phát hiện thường đã rỉ thủng từ trong ra ngoài;
  3. Mỏi do tải động: lưu thông phương tiện và rung động gió khiến lớp sơn lâu dài chịu ứng suất biến đổi, dễ nứt, bong tróc tại vị trí tập trung ứng suất, đặt yêu cầu cao hơn với độ dẻo của sơn và lực bám dính giữa các lớp.

JT/T 722-2008 chính nhằm vào các đặc điểm này, phân khu bộ phận cầu theo mức độ ăn mòn và khả năng tiếp cận, lần lượt đưa ra số hiệu hệ sơn và hệ thống lớp phủ. Điều này sát thực tế cầu hơn việc nói chung "theo ISO 12944 C5 chọn một bộ", bởi môi trường ăn mòn các bộ phận cầu khác nhau chênh lệch cực lớn — bề mặt ngoài tháp chính và bên trong dầm hộp gần như là hai thế giới. Hiểu tư tưởng phân khu này là bước đầu tiên thực thi quy phạm chống ăn mòn cầu.

Hai, Phân khu ăn mòn và hệ sơn tương ứng theo JT/T 722

JT/T 722-2008 chia môi trường sử dụng kết cấu thép cầu thành ba loại môi trường ăn mòn (I, II, III), và phân biệt bề mặt ngoài, bề mặt trong môi trường không kín, bề mặt trong môi trường kín, đưa ra số hiệu hệ sơn và hệ thống lớp phủ khác nhau. Bản chất của pháp phân khu này là phân bổ nguồn lực chống ăn mòn theo ba chiều "cường độ ăn mòn × khả năng tiếp cận × chi phí bảo trì", thay vì cắt một nhát toàn cầu dùng cùng một bộ hệ thống cao chi phí. Bảng dưới tổng hợp tư duy hệ sơn điển hình (theo bảng tiêu chuẩn, lượng DFT tối thiểu, đơn vị µm):

Bộ phận Môi trường ăn mòn Hệ sơn điển hình Tổng DFT tối thiểu (µm)
Bề mặt ngoài (vùng khí quyển) Loại II–III (gần biển/công nghiệp) Phun hồ quang nhôm/sơn lót giàu kẽm + epoxy kín + sơn trung gian epoxy mica sắt + sơn phủ polyurethane aliphatic 260–320
Bề mặt trong không kín Loại II Sơn lót epoxy giàu kẽm + sơn trung gian epoxy + sơn phủ epoxy hoặc polyurethane 200–240
Bề mặt trong kín (trong dầm hộp) Loại I (khô) Sơn lót epoxy giàu kẽm + sơn epoxy (hoặc chỉ lót + trung gian) 120–160

Tiêu chuẩn còn đặc biệt đưa ra hệ sơn phun nhiệt lớp kim loại (như phun hồ quang nhôm, phun kẽm) dùng cho bề mặt ngoài ăn mòn nặng nhất, hệ thống hỗn hợp lớp kim loại và lớp hữu cơ (duplex system) độ bền có thể đạt 20–30 năm, điều này nhất quán về tư tưởng với hệ thống phun kim loại được liệt kê riêng trong ISO 12944-5. Đáng chú ý, ba loại phân khu không có nghĩa "càng nghiêm càng tốt" — bề mặt trong kín ăn mòn nhẹ nhưng nếu sai lầm áp dụng hệ thống bề mặt ngoài cao chi phí, vừa lãng phí giá thành vừa có thể do ngưng tụ bên trong mà sinh vấn đề; ngược lại bên trong dùng sai hệ sơn cũng sẽ rỉ. Tinh hoa của quy phạm phân khu nằm ở "khớp nối chính xác". Về ranh giới chức năng và phân bổ độ dày màng của ba lớp lót-trung gian-phủ, có thể tham khảo Hướng dẫn chọn hệ thống sơn chống ăn mòn ISO 12944 trong đợt này, trong đó có giải thích hệ thống hơn về logic tương ứng giữa cấp môi trường và chọn hệ sơn.

Ba, Phân công ba lớp của hệ sơn bề mặt ngoài

Bề mặt ngoài cầu (đặc biệt bề mặt ngoài vượt biển) thường theo hệ hữu cơ ba lớp "lót + trung gian + phủ", hoặc thiết kế hệ thống hỗn hợp "lớp phun kim loại + kín + trung gian + phủ". Ba lớp trong hệ sơn đều đảm nhiệm vai trò riêng, thiếu một lớp không được:

  • Lớp sơn lót: ưu tiên sơn lót epoxy giàu kẽm, cung cấp bảo vệ catốt, bù đắp lỗ kim loại vi mô có thể tồn tại sau phun cát và hư hại cơ học khi vận chuyển lắp đặt, khiến nền thép tại chỗ hư hại vẫn được kẽm bảo vệ anode hy sinh;
  • Lớp sơn trung gian: sơn trung gian epoxy mica sắt, chất độn dạng vảy kéo dài đường thấm nước oxy, là lớp gánh vác chủ yếu tổng DFT, vừa tăng dày vừa che chắn;
  • Lớp sơn phủ: sơn phủ polyurethane aliphatic, chịu tia cực tím, giữ bóng giữ màu, lâu không phấn hóa, chặn tia cực tím bên ngoài hệ sơn, bảo vệ lớp epoxy bên dưới không chịu UV.

Hệ phun nhôm thì trước tiên trên bề mặt phun cát Sa 3 phun hồ quang nhôm 100–150 µm, rồi sơn epoxy kín ngấm vào lỗ rỗng, sau đó chồng epoxy mica sắt và sơn phủ polyurethane, hình thành "bảo hiểm kép" kim loại + hữu cơ. Về cơ chế che chắn vảy của sơn trung gian ảnh hưởng thế nào đến biểu hiện hệ sơn dưới sương muối, có thể tra cứu thêm Cơ chế che chắn sơn trung gian mica sắt.

Bốn, Chỉ tiêu độ dày màng khô và lực bám dính

JT/T 722 quy định hạn dưới tổng DFT cho các bộ phận khác nhau, và nhấn mạnh lực bám dính. Cần đặc biệt giải thích, mặt cầu thép (tấm面板 dị hướng trực giao) do chịu mài mòn bánh xe, có hệ sơn chịu mài mòn dày hơn riêng (như epoxy giàu kẽm + bột trét epoxy + nhựa đường epoxy/polyurethane, tổng DFT có thể đạt mức 2000–3000 µm dùng cho lớp dính kết cấu áo đường), nhưng đó là hệ thống áo đường mặt cầu, hoàn toàn khác với sơn chống ăn mòn khí quyển kết cấu thượng bộ, tiêu chuẩn và nghiệm thu đều quản lý riêng, tuyệt đối không được trộn dùng.

Nghiệm thu lực bám dính phần nhiều dùng phương pháp kéo rút (ISO 4624 / GB/T 5210), yêu cầu lực bám dính giữa các lớp hệ sơn và với nền thường ≥ 5 MPa, và phá hủy nên xảy ra bên trong lớp sơn chứ không tại giao diện — nếu phá hủy tại giao diện, chứng tỏ xử lý bề mặt hoặc hệ sơn giữa các lớp có vấn đề. Phương pháp lưới cắt (GB/T 9286) dùng đánh giá nhanh hiện trường, yêu cầu cấp 1. Hai phương pháp là quan hệ bổ trợ: lưới cắt thích hợp sơ đánh giá hiện trường, kéo rút dùng nghiệm thu chính thức và phán định tranh chấp, nút chịu lực then chốt nên lấy kéo rút làm chuẩn.

Năm, Xử lý bề mặt: Phun cát và độ nhám

Cấu kiện thép cầu trong nhà máy ưu tiên áp dụng làm sạch phun Sa 2.5 (gần trắng), vùng khắc nghiệt bề mặt ngoài thậm chí Sa 3; sửa chữa công trường do hạn chế điều kiện ít nhất Sa 2.5, chỗ cục bộ không phun được có thể dùng dụng cụ động lực St 3 (phụ lục ISO 8501-1). Hồ sơ độ nhám theo ISO 8503 khống chế 40–75 µm (trung bình đến thô), đảm bảo neo cơ học lớp sơn. Vật liệu mài phun cát nên chọn cát khoáng không tan trong nước (cát quặng đồng, cát thép), nghiêm cấm cát biển (mang ion clorua). Sau xử lý trong 4 h (độ ẩm lớn thì ngắn hơn) phải sơn lót, phòng tránh rỉ trở lại.

Xử lý bề mặt là "nền móng" tuổi thọ chống ăn mòn cả cây cầu. Rất nhiều case hư hỏng chỉ ra, khoảng bảy phần mười rỉ sớm liên quan trực tiếp không đạt chuẩn xử lý bề mặt — muối tồn dư, dầu mỡ, vảy oxit chưa sạch, đều sẽ thành điểm khởi đầu rỉ sét về sau. Do đó quy phạm yêu cầu sau phun cát lập tức làm kiểm tra muối bề mặt (phương pháp Bresle), vượt tiêu chuẩn phải xử lý lại. Bước này lúc gấp tiến độ最容易 bị nén lại, nhưng lại là khâu không thể tiết kiệm.

Cảnh không gian kín nhân viên bên trong dầm hộp thép cầu tiến hành phun cát và kiểm tra sơn

Sáu, Môi trường thi công và khống chế nhiệt độ độ ẩm

Sơn cầu vượt qua hai loại工况 chế tạo nhà máy và hiện trường. Điều kiện nhà máy có thể khống chế, nhiệt độ, độ ẩm, độ sạch đều đảm bảo; hiện trường (đặc biệt cầu vượt biển) chịu ảnh hưởng gió biển, độ ẩm cao, sương muối cực lớn, là khâu dao động chất lượng lớn nhất. Quy phạm yêu cầu: nhiệt độ nền cao hơn điểm sương trên 3℃, độ ẩm tương đối ≤ 85% (sơn lót giàu kẽm yêu cầu nghiêm hơn, thường ≤ 80%), gió quá lớn cần dựng lán chắn gió, mưa, đọng sương, xuống sương cấm thi công. Khoảng cách sơn lại mỗi lớp theo TDS thực thi, mùa nhiệt độ thấp cần kéo dài hoặc gia nhiệt.

Hiện trường còn nên giám sát tỷ lệ lắng đọng muối khí quyển, vượt tiêu chuẩn thì tăng công đoạn xối nhạt bề mặt, rửa sạch. Vùng bắn sóng cầu vượt biển sau khi rút triều bề mặt sẽ tồn dư tinh thể muối, nếu sơn trực tiếp bằng với việc khóa ion clorua dưới lớp sơn, về sau tất rỉ. Do đó quy phạm yêu cầu vùng triều chênh, vùng bắn sóng trước khi sơn phải dùng nước ngọt rửa sạch và kiểm tra muối bề mặt. Chi tiết này trong văn bản quy phạm thường chỉ một câu, nhưng lại là then chốt thành bại chống ăn mòn cầu vượt biển.

Bảy, Kiểm tra và nghiệm thu: Đưa quy phạm xuống dữ liệu

Nghiệm thu sơn cầu thường chia hai giai đoạn nhà máy và hiện trường, không được lẫn lộn:

  • Sơn trước trong nhà máy: sơn cấu kiện rời trước khi lắp ráp, kiểm tra DFT, ngoại quan, lực bám dính, lúc này điều kiện tốt, dữ liệu tin cậy;
  • Sau lắp ráp hiện trường: nút, mối hàn, chỗ hư hỏng sửa chữa sơn bù, toàn bộ kiểm lại DFT và lọt sơn (dùng kiểm rò tia lửa điện với lớp bột dày, không dung môi, theo quy phạm kiểm rò tia lửa điện liên quan).

DFT theo quy tắc 90/10 của ISO 19840 để phán định (90% điểm đo không thấp hơn giá trị quy định, các điểm còn lại không thấp hơn 90% giá trị quy định), độ bám dính theo ISO 4624, điểm rò rỉ theo quy phạm kiểm tra rò rỉ tia lửa điện liên quan (như NACE SP0188, khi màng khô ≥ 500 µm khuyến nghị kiểm tra rò rỉ). Độ sai màu, chảy nhớt, vỏ cam và các ngoại quan khác theo đánh giá so màu bằng mắt thường GB/T 9761. Cốt lõi của nghiệm thu là dịch "văn bản quy phạm" thành "danh sách dữ liệu có thể đánh dấu", thiếu hạng mục nào thì không ký xác nhận.

Tám, Sơn sửa chữa: Quy phạm trong toàn bộ vòng đời

Tuổi thọ thiết kế cầu thường 50–100 năm, hệ thống chống ăn mòn cần trải qua nhiều lần bảo trì, tuyệt đối không phải "sơn một lần dùng một trăm năm". Trước khi bảo trì nên làm đánh giá cấp độ rỉ sét và trạng thái lớp phủ (theo cấp độ bọt, đốm rỉ, nứt, phấn hóa của ISO 4628), phán định là sửa chữa cục bộ hay sơn phủ lại toàn bộ. Sửa chữa cục bộ cần mài đến Sa 2.5 (hoặc ít nhất St 3 vùng chuyển tiếp xung quanh), dùng hệ配套 tương thích chuyển tiếp; sơn phủ lại toàn bộ thì thực hiện theo hệ nguyên bản hoặc hệ nâng cấp. Bảo trì cũng cần được viết vào quy phạm, tránh mô hình bị động "hỏng rồi mới sơn".

Với tư cách nhà cung cấp配套, Khách Tín新材料 (kexinMaterials) trên các dự án cầu chủ trương phân công "sơn lót và sơn trung gian tiền sơn trong nhà máy + sơn phủ và sửa chữa mối nối tại hiện trường", vừa đảm bảo chất lượng ổn định Sa 2.5 trong nhà máy, vừa giảm lượng công việc trên cao tại hiện trường, đồng thời cung cấp dữ liệu truy xuất DFT và độ bám dính cho từng lô cấu kiện, giúp bảo trì có căn cứ tra cứu. Nhiều cầu sau hai mươi năm sử dụng đại tu thuận lợi, chính là nhờ hồ sơ lô ban đầu hoàn chỉnh, có thể định vị chính xác đoạn nào, năm nào, dùng hệ配套 gì.

Cảnh nhân viên nghiệm thu sơn cầu sử dụng máy đo kéo kiểm tra độ bám dính lớp phủ tại hiện trường

Chín, Sự kết nối với ISO 12944

Môi trường ăn mòn I/II/III của JT/T 722 về cơ bản tương ứng với C3/C4/C5–CX của ISO 12944. Cầu có yếu tố nước ngoài hoặc dự án tư vấn quốc tế, nên đồng thời trích dẫn bảng配套 và cấp độ bền của ISO 12944-5 (cao H hoặc rất cao VH), dùng thử nghiệm loại hình theo ISO 12944-6 làm bảo chứng bên thứ ba. Như vậy vừa đáp ứng nghiệm thu ngành đường bộ Trung Quốc, vừa kết nối ngôn ngữ quốc tế phổ dụng. Cần nhắc nhở, hai bộ tiêu chuẩn không xung đột mà bổ sung cho nhau: JT/T 722 sát với đặc điểm bộ phận cầu hơn, ISO 12944 cung cấp khung quốc tế hoàn chỉnh hơn, trong bản đặc kỹ viết rõ song song "thực thi quốc gia + bảo chứng quốc tế" là thực hành tốt nhất cho dự án cầu lớn.

Mười, Vi phạm và bài học thường gặp

Từ rà soát nhiều công trình chống ăn mòn cầu, các vi phạm sau phổ biến nhất, đáng để cảnh tỉnh:

  • Vi phạm một: Mặt trong dầm hộp dùng hệ配套 mặt ngoài. Mặt kín bên trong ăn mòn nhẹ lại dùng hệ mặt ngoài cao chi phí, lãng phí giá thành; hoặc ngược lại bên trong dùng sai hệ配套 gây rỉ sét do ngưng tụ.
  • Vi phạm hai: Phun cát xong sơn quá hạn. Ven biển độ ẩm lớn, quá 4 h cơ sở lại rỉ sét, độ bám dính sụp đổ, đây là tai nạn điển hình của "chạy tiến độ".
  • Vi phạm ba: Sơn phủ thay sơn trung gian. Để tiết kiệm công đoạn sơn polyurethane phủ dày, che chắn không đủ, tổng DFT xem như đạt nhưng rỉ sét sớm.
  • Vi phạm bốn: Mất kiểm soát间隔 phủ lại. Nhiệt độ thấp epoxy chưa khô đã sơn phủ mặt, bong lớp giữa, toàn bộ hệ配套 hỏng tại giao diện.
  • Vi phạm năm: Không kiểm tra điểm rò rỉ. Lớp không dung môi dày đặc có lỗ kim không bị tia lửa điện phát hiện, sau này ăn mòn điểm, lan từ lỗ kim ra xung quanh.

Mười một, Phân tích ví dụ hệ配套 cầu dây văng biển điển hình

Lấy một cầu dây văng biển làm ví dụ, theo thiết kế song song JT/T 722-2008 và ISO 12944, hệ配套 các bộ phận khác nhau phân giải như sau:

  • Mặt ngoài tháp chính (cấp CX): phun hồ quang nhôm 120 µm + sơn epoxy kín + sơn epoxy vảy sắt trung gian 120 µm + sơn polyurethane aliphatic phủ 80 µm, tổng DFT khoảng 320–340 µm, mục tiêu bền VH (≥25 năm);
  • Mặt ngoài dầm hộp thép (cấp C5): sơn epoxy kẽm giàu 70 µm + sơn epoxy vảy sắt trung gian 140 µm + sơn polyurethane aliphatic phủ 80 µm, tổng khoảng 290 µm, mục tiêu H (cao);
  • Bên trong dầm hộp (kín, loại I): sơn epoxy kẽm giàu 60 µm + sơn epoxy 80 µm, tổng khoảng 140 µm, phối hợp thông gió cưỡng bức và hút ẩm;
  • Hút ẩm và thoát nước: buồng hộp kín lắp hệ thống hút ẩm, giữ độ ẩm tương đối bên trong lâu dài < 50%, thực tế hạ cấp môi trường ăn mòn xuống thấp hơn, là ví dụ "hạ cấp bằng thiết kế".

Ví dụ cho thấy: cùng một cầu các bộ phận khác nhau dùng hệ配套 khác nhau, dựa vào phân vùng môi trường và khả năng tiếp cận thiết kế tinh tế, chứ không một tiêu chuẩn cho tất cả. Đây cũng là minh họa thực thi tư tưởng phân vùng của JT/T 722.

Mười hai, Tính đặc thù của sơn bên trong dầm hộp thép

Bên trong dầm hộp thép là khu vực dễ bị lơ là nhất mà cũng dễ sinh sự cố nhất trong chống ăn mòn cầu: không gian kín, thông gió kém, dễ ngưng tụ, khó tiếp cận, khó sửa sau này. Quy phạm yêu cầu bên trong làm xử lý bề mặt và sơn, nhưng hiện trường thường qua loa do ép tiến độ. Cách làm đúng: trước lắp ghép trong nhà máy, phun sơn lót + trung gian cho chi tiết trước, sau lắp tổng thể chỉ补 mối hàn và chỗ hỏng; bên trong lắp hệ thống hút ẩm kiểm soát độ ẩm tương đối; trước khi kín làm kiểm tra độ dày màng và rò rỉ cuối; sau khi kín định kỳ theo ISO 4628 mở lỗ đánh giá. Coi "bên trong" như "bên ngoài" thì mới tránh thảm họa dầm hộp rỉ thủng từ trong ra ngoài.

Mười ba, Thi công đông hè và quản lý cửa sổ đóng rắn

Thi công cầu biển thường trải qua mùa, hệ epoxy cực nhạy với nhiệt độ. Epoxy ở nhiệt độ thấp (< 10℃) đóng rắn rất chậm, kẽm giàu thậm chí không khô; mùa hè nhiệt độ cao thì thời gian sử dụng ngắn đột ngột, dễ hóa cứng. Điểm quản lý:

  • Mùa đông chọn chất đóng rắn nhiệt độ thấp (loại phenolic amine có thể đóng rắn 5℃), hoặc dựng lều sưởi; cấm thi công trong phạm vi 3℃ dưới điểm đọng sương;
  • Mùa hè tránh giữa trưa nắng gắt, thi công sáng sớm chiều muộn, rút ngắn thời gian đặt hỗn hợp đã trộn;
  • Interval phủ lại các mùa khác nhau của cùng cầu nên điều chỉnh động và ghi chép, tránh "làm mùa đông theo tham số mùa hè" gây không khô.

Kiểm soát nhiệt độ độ ẩm và điểm đọng sương là sinh mệnh tuyến của sơn cầu hiện trường, cầu biển càng thế, giám lý phải coi hồ sơ môi trường là hạng mục bắt buộc nghiệm thu.

Cảnh kiểm soát môi trường công trường cầu biển dựng lều che gió chống sương làm sơn cấu kiện thép

Mười bốn, Danh sách nghiệm thu giám lý (phiên bản thực thi được)

Để JT/T 722 xuống nghiệm thu, khuyến nghị giám lý đánh dấu từng hạng mục theo danh sách sau: ① ảnh so sánh cấp phun cát (Sa 2.5/Sa 3); ② dấu ấn hoặc đo bằng máy độ nhám bề mặt; ③ giá trị muối bề mặt đo Bresle; ④ ghi chép quy tắc 90/10 của DFT mỗi lớp; ⑤ dữ liệu kéo độ bám dính hoặc bám lưới; ⑥ interval phủ lại và hồ sơ môi trường; ⑦ kiểm tra rò rỉ tia lửa điện điểm rò (lớp dày đặc); ⑧ số lô sơn và tính nhất quán TDS. Thiếu hạng mục nào không ký xác nhận. Khách Tín新材料 (kexinMaterials) khi giao dự án cầu, thẻ quy trình có chứa các mục đánh dấu trên, thuận tiện giám lý một bảng thu hết, cũng tiện tra ngược hồ sơ chất lượng từng đoạn cấu kiện khi bảo trì sau này.

Mười lăm, Tham khảo chỉ tiêu hiệu năng then chốt vật liệu hệ chống ăn mòn cầu

Sau khi hoàn tất tuyển chọn theo JT/T 722 và ISO 12944, giai đoạn thực thi còn phải đưa ra yêu cầu định lượng với chỉ tiêu cụ thể của mỗi lớp sơn, tránh "có hệ配套 không có chỉ tiêu" khiến bên thi công dùng hàng kém thế chỗ. Hạng mục kiểm soát điển hình như sau (số liệu là cấp độ phổ biến ngành, cụ thể theo TDS từng sản phẩm):

Lớp phủ Hàm lượng rắn thể tích Tỷ lệ phủ lý thuyết (µm/L) DFT đơn lớp (µm) Chỉ tiêu then chốt
Sơn epoxy kẽm giàu 55%–70% khoảng 2.8 60–80 Hàm lượng kẽm ≥70%, khô bề mặt nhanh
Sơn epoxy vảy sắt trung gian 70%–85% khoảng 3.5 80–120 Hàm lượng MIO, độ bám dính lớp giữa
Sơn polyurethane aliphatic phủ 50%–65% khoảng 2.5 40–60 Tỷ lệ giữ bóng, VOC ≤420 g/L

Các chỉ tiêu này phải viết vào bản đặc kỹ kỹ thuật đấu thầu và thẻ quy trình, làm căn cứ kiểm tra nhập xưởng và kiểm soát thi công. Hàm lượng rắn thể tích quyết định độ dày màng đạt được đơn lớp và VOC, tỷ lệ phủ lý thuyết quyết định tính toán vật liệu, DFT đơn lớp quyết định số lớp sơn. Nhiều dự án cầu sau này "số lớp sơn vượt quá, giá thành mất kiểm soát", căn nguyên là lúc đấu thầu không khóa hàm lượng rắn thể tích và độ dày đơn lớp, bên thi công dùng sản phẩm hàm lượng rắn thấp lấp đầy, ngược lại tăng số lớp và nhân công.

Mười sáu, Gia cường đặc biệt vùng bắn sóng và vùng triều cầu biển

Trong cầu biển, vùng bắn sóng và vùng triều là bộ phận ăn mòn khắc nghiệt nhất: khô ướt luân phiên dày đặc nhất, cung oxy đầy đủ nhất, nồng độ ion clorua cao nhất, tốc độ ăn mòn gấp nhiều lần vùng khí quyển. Quy phạm nên tách riêng thành môi trường cục bộ CX thậm chí cao hơn CX, hệ配套 trên cơ sở hệ mặt ngoài thông thường tiếp tục dày thêm hoặc chồng phun kim loại. Cách làm phổ biến: ngoài "kẽm giàu + vảy sắt + polyurethane" thông thường, tăng lớp phun hồ quang nhôm dày đến 150–200 µm, hoặc dùng epoxy không dung môi siêu dày làm rào cản phụ; mối hàn, nút v.v. chỗ tập trung ứng suất先做 gia cường cục bộ rồi phủ toàn bộ.

Mười bảy, Kilômét cuối từ quy phạm đến công địa

Quy phạm hoàn thiện đến đâu, nếu giám lý không biết dùng, thi công không chịu giữ, cũng chỉ là giấy trắng mực đen. "Kilômét cuối" của quy phạm chống ăn mòn cầu nằm ở: dịch điều khoản tiêu chuẩn thành thẻ quy trình và danh sách nghiệm thu thi hành được tại hiện trường, chụp ảnh cấp phun cát, làm thống kê 90/10 độ dày màng, lưu dữ liệu kéo độ bám dính, lưu hồ sơ số lô sơn. Khi mỗi công đoạn đều có dữ liệu truy xuất, quy phạm mới thực sự xuống đất. Thiết lập vòng kín "bản đặc kỹ + thẻ quy trình + chỉ mục kiểm tra + truy xuất lô", chính là thực hành cụ thể đưa JT/T 722 và ISO 12944 từ giấy xuống công địa.

Mười tám, Cơ sở số liệu điển hình chống ăn mòn cầu và đối chiếu nghiệm thu

Chuyển các quy định nêu trên thành các giá trị có thể định lượng, dưới đây đưa ra cơ sở số liệu điển hình cho các dự án cầu trong nước (theo bảng của JT/T 722-2008 và yêu cầu nghiệm thu GB 50205, đơn vị µm, là cấp độ điển hình, cụ thể theo đặc tính kỹ thuật dự án):

Bộ phận DFT tổng tối thiểu (µm) Yêu cầu độ bám dính Xử lý bề mặt
Bề mặt ngoài (Loại III) 260–320 ≥ 5 MPa / Cấp 1 Sa 2.5
Bề mặt trong không kín (Loại II) 200–240 ≥ 5 MPa / Cấp 1 Sa 2.5
Bề mặt trong kín (Loại I) 120–160 ≥ 3 MPa Sa 2.5
Lớp phủ mặt cầu thép 2000–3000 Cường độ kết dính Sa 2.5 + phun cát tạo nhám

Các giá trị này không phải "càng cao càng tốt", mà là "đủ dùng và có thể truy xuất". Khi nghiệm thu, tư vấn giám sát nên đối chiếu DFT và độ bám dính của từng bộ phận với bảng trên, đánh dấu từng hạng mục. Đối với bề mặt trong kín, mặc dù giới hạn dưới DFT thấp hơn, nhưng thiết kế hút ẩm và thoát nước cũng quan trọng tương đương — nhiều trường hợp rỉ sét bên trong dầm hộp không phải do màng sơn không đủ dày, mà do ngấm nước rồi đọng sương lâu ngày. Gắn kết cơ sở số liệu với thiết kế môi trường và chế độ bảo trì, chống ăn mòn cầu mới thực sự khép kín, đồng thời tránh việc coi "sơn thêm hai lớp" là biện pháp duy nhất để "bền hơn". Thực tế, trong môi trường C4 trở lên, ảnh hưởng của cấp độ xử lý bề mặt và tính đầy đủ của hệ sơn thường rõ rệt hơn so với việc đơn thuần tăng DFT, đây cũng là lý do quy chuẩn nhiều lần nhấn mạnh Sa 2.5 và sự phân công ba lớp.

Ngoài ra, JT/T 722 còn định lượng một số chi tiết, ví dụ hàm lượng muối hòa tan trên bề mặt trước khi sơn phải được kiểm soát ở mức rất thấp (theo phương pháp Bresle của ISO 8502-6, yêu cầu điển hình ≤ 20 mg/m² hoặc thấp hơn, cụ thể tùy bộ phận và môi trường ăn mòn), bởi vì dù độ dày màng đạt chuẩn, muối残留 vẫn gây bong rộp thẩm thấu dưới lớp sơn. Giám sát hiện trường dễ bỏ qua điểm này, hậu quả của việc "cho qua có điều kiện" thường là bong rộp diện rộng bề mặt ngoài trong vòng hai năm. Coi "muối — độ dày màng — độ bám dính" là ba tiêu chí nghiệm thu liên hợp sẽ đáng tin hơn so với chỉ tập trung vào DFT, đây cũng là xu hướng gần đây nghiệm thu chống ăn mòn cầu chuyển từ "đo độ dày" lên "đo chất lượng tổng hợp". Với cầu vượt biển, tinh thể muối trên bề mặt vùng bắn sóng sau khi triều rút phải xả bằng nước ngọt và đo lại, nếu không sẽ khóa vĩnh viễn ion clorua dưới lớp sơn, việc bỏ qua công đoạn này là nguyên nhân ngầm khiến nhiều cầu vượt biển phải đại tu sớm.

Các câu hỏi thường gặp

Hỏi: Chọn JT/T 722-2008 và ISO 12944 như thế nào trên cầu?

Đáp: Cầu đường bộ trong nước lấy JT/T 722-2008 làm căn cứ nghiệm thu trực tiếp, phân vùng ăn mòn và bảng hệ sơn của nó sát với bộ phận cầu hơn; đồng thời viện dẫn độ bền và kiểm nghiệm kiểu bên thứ ba của ISO 12944 làm bảo chứng quốc tế thông dụng. Hai bên không xung đột, đề xuất trong đặc tính kỹ thuật ghi rõ song song "tiêu chuẩn quốc gia triển khai + bảo chứng quốc tế", vừa đáp ứng nghiệm thu ngành đường bộ Trung Quốc, vừa tiếp nối ngôn ngữ quốc tế thông dụng.

Hỏi: Tổng DFT bề mặt ngoài cầu thường làm bao nhiêu?

Đáp: Bề mặt ngoài cầu vượt biển (môi trường ăn mòn Loại III) hệ hữu cơ tổng DFT thường 260–320 µm, hệ phức hợp phun kim loại cộng thêm 100–150 µm lớp nhôm; bề mặt ngoài cầu nội địa khoảng 200–240 µm. Cụ thể xem bộ phận và mục tiêu độ bền, đồng thời应Meets quy tắc độ dày màng 90/10, tức 90% điểm đo không thấp hơn giá trị quy định, còn lại không thấp hơn 90% giá trị quy định.

Hỏi: Tại sao môi trường ăn mòn bên trong dầm hộp kín lại định thấp hơn?

Đáp: Bề mặt trong kín thông gió kém nhưng ít chịu rửa trực tiếp bởi mưa và sương muối, độ ẩm tương đối có thể kiểm soát, không có tia UV, tốc độ ăn mòn thấp hơn bề mặt ngoài, nên JT/T 722 xếp bề mặt trong kín vào môi trường ăn mòn thấp hơn (Loại I), hệ sơn có thể giản lược, tổng DFT thấp hơn. Nhưng một khi ngấm nước đọng sương vẫn sẽ rỉ sét nghiêm trọng, do đó thiết kế kín và thoát nước cũng quan trọng tương đương, không được vì phân vùng thấp mà xem nhẹ.

Hỏi: Hệ phun hồ quang nhôm hơn hệ hữu cơ thuần túy ở điểm nào?

Đáp: Lớp nhôm kim loại bản thân chịu ăn mòn và có thể bảo vệ catốt nền thép, với lớp hữu cơ phía sau tạo thành hệ phức hợp "kép kim loại + hữu cơ" (duplex), độ bền đạt 20–30 năm, vượt xa hệ hữu cơ đơn. Cái giá là yêu cầu thi công Sa 3 và thiết bị chuyên dụng, chi phí cao, thường dùng cho bề mặt ngoài quan trọng nhất của cầu vượt biển, thuộc lựa chọn "đổi tuổi thọ dài bằng chi phí cao".

Hỏi: Xử lý bề mặt cho sửa chữa hiện trường cầu dùng cấp nào?

Đáp: Nơi có thể phun vẫn nên Sa 2.5; nơi bị hạn chế không gian có thể dùng dụng cụ cơ giới mài đến St 3 (ISO 8501-1), và làm chuyển tiếp vạt (mài xung quanh thành dốc), đảm bảo hệ sửa chữa tương thích với lớp sơn cũ, độ bám dính đạt chuẩn. Trước khi sửa phải loại sạch rỉ lỏng và sơn cũ, nếu không sơn mới sẽ bong cùng lớp lỏng.

Hỏi: Nghiệm thu độ bám dính dùng phương pháp kéo rút hay phương pháp lưới cắt?

Đáp: Hai phương pháp bổ trợ nhau. Đánh giá nhanh hiện trường dùng lưới cắt (GB/T 9286, yêu cầu Cấp 1); nghiệm thu chính thức và phán quyết tranh chấp dùng kéo rút (ISO 4624 / GB/T 5210), yêu cầu giữa các lớp và với nền ≥ 5 MPa, và phá hủy bên trong lớp sơn chứ không phải tại giao diện. Điểm chịu lực then chốt phải lấy kéo rút làm chuẩn, lưới cắt không thể làm căn cứ duy nhất nghiệm thu cuối.

Hỏi: Lớp phủ mặt cầu và sơn kết cấu thượng tầng có phải một việc không?

Đáp: Không. Sơn kết cấu thép thượng tầng là chống ăn mòn khí quyển, tổng DFT vài trăm micromet; hệ phủ mặt cầu (bản dạng trực giao) là chống mòn bánh xe và kết dính, liên quan đến nhựa đường epoxy, polyurethane và các hệ dày hơn, là công trình phủ mặt chứ không phải sơn chống ăn mòn, tiêu chuẩn và nghiệm thu đều khác, không được trộn lẫn, càng không được lấy độ dày phủ mặt làm DFT chống ăn mòn để đối phó.

Hỏi: Bảo trì sơn khi nào phủ lại toàn bộ, khi nào sửa chữa cục bộ?

Đáp: Trước tiên theo ISO 4628 đánh giá rỉ sét, bong rộp, phấn hóa của lớp sơn hiện có. Rỉ sét cục bộ, nền còn tốt thì sửa cục bộ; phấn hóa, nứt, rỉ diện rộng thì phủ lại toàn bộ. Quyết định nên dựa trên dữ liệu đánh giá trạng thái, không phải cảm quan bề ngoài, càng không được chưa đánh giá đã mài phủ lại toàn bộ, như vậy vừa lãng phí vừa có thể hại vật liệu gốc.

Hỏi: Tại sao sơn hiện trường nghiêm ngặt về độ ẩm hơn trong nhà máy?

Đáp: Cầu vượt biển hiện trường độ ẩm tương đối thường > 85%, lại có sương muối clorua, sơn lót giàu kẽm hút ẩm dễ trắng hóa, độ bám dính giảm. Quy chuẩn yêu cầu độ ẩm tương đối ≤ 85%, nền cao hơn điểm sương 3℃, sơn lót giàu kẽm thường yêu cầu ≤ 80%, và dựng lều che gió chống sương,必要时 gia nhiệt hút ẩm. Khi lắng đọng muối hiện trường cao còn phải tăng xả nước ngọt và đo muối bề mặt.

Hỏi: Làm sao đảm bảo lớp sơn trong 50 năm có thể truy xuất?

Đáp: Thiết lập hồ sơ từng lô cấu kiện, từng lớp sơn gồm DFT, độ bám dính, ghi chép môi trường và số lô sơn, bảo trì theo ISO 4628 định kỳ đánh giá và lưu trữ. Nhà cung cấp như KeXin New Material(kexinMaterials) sẽ cung cấp kèm theo thẻ quy trình và chỉ mục kiểm tra có thể truy xuất, hỗ trợ quản lý toàn tuổi thọ, khiến mỗi lần bảo trì trong năm mươi năm đều có cứ liệu, thay vì dựa vào trí nhớ hay sổ ghi chép tay.

Đọc thêm